Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 462

  • Tổng 7.241.905

Thảo luận Luật Thuế giá trị gia tăng: Sửa luật nhưng phải "lấp" lỗ hổng hoàn thuế và chặn mua bán lòng vòng

Post date: 11/12/2025

Font size : A- A A+

 

Chiều ngày 09/12, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Quốc hội đã tiến hành thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT).

 

Tham gia phiên thảo luận, đại biểu Hà Sỹ Đồng - Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị, đã có bài phát biểu thẳng thắn, đi sâu vào những vướng mắc thực tiễn và đề xuất các công cụ kỹ thuật cụ thể để kiểm soát rủi ro, bảo vệ cả ngân sách và doanh nghiệp.

 

 

Đại biểu Hà Sỹ Đồng thảo luận tại hội trường


Mở đầu bài phát biểu, đại biểu Hà Sỹ Đồng bày tỏ băn khoăn về tính thời điểm của việc sửa đổi Luật. Trong bối cảnh Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 mới có hiệu lực từ 01/7/2025, đại biểu cho rằng nhiều vướng mắc hiện nay không bắt nguồn từ quy định của luật, mà chủ yếu từ khâu tổ chức thực hiện. Tình trạng thời gian hoàn thuế kéo dài, thiếu công cụ tra cứu minh bạch và sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật đang là những điểm nghẽn. Việc sửa luật quá sớm khi các văn bản hướng dẫn còn chưa hoàn thiện có thể làm lệch pha chính sách, gây xáo trộn không cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh.


Đi vào các nội dung cụ thể, đại biểu tập trung phân tích chính sách thuế đối với nông sản, thức ăn chăn nuôi và phế phẩm, phụ phẩm. Theo đại biểu, báo cáo giải trình của cơ quan soạn thảo còn dài dòng nhưng chưa làm rõ được tiêu chí vận hành. Để tránh tình trạng mở rộng tùy tiện qua văn bản hướng dẫn, đại biểu kiến nghị Quốc hội cần quy định rõ ngay trong luật hoặc giao Bộ Tài chính ban hành danh mục hàng hóa cụ thể theo mã HS, kèm theo tiêu chí tỷ lệ xuất khẩu để áp dụng cơ chế “không phải kê khai nhưng được khấu trừ”.


Đồng thời, để ngăn chặn tình trạng mua bán lòng vòng nhằm gian lận thuế, cần quy định bộ chứng từ tối thiểu bắt buộc như hợp đồng, phiếu thu gom, chứng từ vận chuyển, xác nhận của hợp tác xã, kèm theo các mẫu biểu thống nhất. Đối với phế phẩm, phụ phẩm, cần xây dựng hệ thống mã, tên gọi và tiêu chí phân loại chuẩn hóa theo mã HS, yêu cầu doanh nghiệp lập bảng kê định mức để chống hành vi khai thấp giá trị nhằm chuyển doanh thu sang nhóm thuế suất thấp.


Một nội dung gây nhiều tranh luận là đề xuất bỏ điều kiện “người bán đã kê khai, nộp thuế” tại điểm c khoản 9 Điều 15 để được hoàn thuế. Đại biểu Hà Sỹ Đồng nhận định báo cáo giải trình về vấn đề này còn "mỏng", chưa đưa ra được cơ chế bảo vệ ngân sách và doanh nghiệp làm ăn chân chính khi điều kiện này bị gỡ bỏ. Nếu Quốc hội quyết định bãi bỏ, đại biểu kiến nghị phải đồng thời thiết lập cổng tra cứu công khai tình trạng tuân thủ thuế của người bán, có kết nối dữ liệu (API) cho ngân hàng và doanh nghiệp.


Đại biểu đề xuất áp dụng cơ chế hoàn thuế tự động dựa trên mức độ rủi ro: doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt sẽ được hoàn thuế trong thời hạn cố định (ví dụ 30 ngày), còn doanh nghiệp rủi ro cao phải kiểm tra trước hoàn. Quan trọng hơn, không thể chỉ dừng lại ở cam kết chung chung về "rút ngắn thời gian", mà cần quy định khung thời hạn cụ thể và chế tài xử lý trách nhiệm, kể cả bồi thường, nếu cơ quan thuế kéo dài thời gian gây đọng vốn cho doanh nghiệp.


Về ứng dụng công nghệ, đại biểu cho rằng việc sử dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý thuế không thể chỉ là khẩu hiệu. Cần quy định chi tiết bằng văn bản về loại dữ liệu được kết nối (hóa đơn điện tử, ngân hàng, hải quan, vận tải), tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo mật và trách nhiệm của từng bên.


Đại biểu cũng lưu ý về tác động ngân sách địa phương, đề nghị cần có số liệu minh bạch thay vì kết luận định tính "không ảnh hưởng lớn". Khi mở rộng diện hoàn thuế, cần có cơ chế bù đắp tạm thời để tránh hụt thu đột ngột cho địa phương. Đặc biệt, cần giới hạn thẩm quyền của Bộ trưởng trong việc quy định chi tiết, đảm bảo không mở rộng phạm vi so với danh mục ban đầu và áp dụng ổn định tối thiểu 3 năm để doanh nghiệp yên tâm đầu tư.


Cuối cùng, đại biểu Hà Sỹ Đồng đề nghị Bộ Tài chính cần có báo cáo hậu kiểm sau 12 tháng thực hiện luật sửa đổi, bao gồm các chỉ số về số hồ sơ hoàn thuế, số vụ gian lận, số tiền hoàn sai và thời gian xử lý trung bình. Nếu phát sinh rủi ro lớn, cần có cơ chế tạm dừng và sửa đổi kịp thời. 


Phương Hảo - Thanh Tuân
 

More