Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 3

  • Tổng 7.241.449

Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị tham gia xây dựng pháp luật

Post date: 04/12/2025

Font size : A- A A+

Chiều ngày 03/12, tiếp tục Kỳ họp thứ 10, Quốc hội thảo luận ở Tổ về 04 nội dung: Chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035; Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh; Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số 136/2024/QH15 về tổ chức chính quyền đô thị và thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng; Chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Vinh - Thanh Thủy.

Dưới sự điều hành của đồng chí Phó trưởng đoàn phụ trách Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Quảng Trị Hoàng Đức Thắng, các đại biểu thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị đã tập trung góp ý nhiều nội dung quan trọng liên quan đến các chương trình, dự án trên.

Đại biểu Hà Sỹ Đồng phát biểu tại buổi thảo luận tổ 

Góp ý vào Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, đại biểu Hà Sỹ Đồng, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, ĐBQH tỉnh Quảng Trị cho rằng việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 98/2023/QH15 là yêu cầu cấp bách nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, bảo đảm đồng bộ pháp luật và cụ thể hóa các chủ trương lớn đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết luận. Tuy nhiên, theo đại biểu dự thảo lần này có phạm vi chính sách rất rộng, tác động trực tiếp đến ngân sách nhà nước, tài sản công, đất đai, an ninh kinh tế và quyền lợi của người dân; đồng thời có nhiều nội dung khác với các luật hiện hành hoặc đang được Quốc hội xem xét sửa đổi. Vì vậy, việc sửa đổi Nghị quyết số 98/2023/QH15 cần tiếp cận theo nguyên tắc: tập trung - thận trọng - đồng bộ - thực chất - và tuyệt đối không để xảy ra rủi ro chính sách, tạo kẽ hở cho tiêu cực hay lợi ích nhóm.

Về chính sách phát triển đô thị theo TOD, theo đại biểu đây là một trong những điểm đột phá quan trọng. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa cho phép kết hợp đất công cộng với mục đích nhà ở. Đại biểu đề nghị Chính phủ phải đánh giá thật kỹ, tách bạch các loại đất, xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật riêng cho mô hình hỗn hợp TOD, và tuyệt đối không để cơ chế TOD trở thành “lá chắn” cho chuyển mục đích đất công sang nhà ở một cách dễ dãi.

Về chính sách tài khóa – ngân sách trong khu vực TOD, đại biểu đề nghị không quy định lại nội dung này vì đã được luật hóa đầy đủ trong Luật Đường sắt 2025 để tránh chồng chéo; trường hợp nếu có điều chỉnh thì phải xin ý kiến cấp có thẩm quyền của Đảng, vì liên quan trực tiếp Nghị quyết 18-NQ/TW về điều tiết nguồn thu đất giữa Trung ương và địa phương.

Đại biểu cũng đề nghị cần cân nhắc, thận trong về quy định mở rộng thủ tục đầu tư đặc biệt. Đối với Khu Thương mại tự do (FTZ), đại biểu đồng tình về mặt chủ trương; tuy nhiên đề nghị làm rõ toàn bộ “thiết kế thể chế” của FTZ trước khi đưa vào áp dụng, tránh quy định khung nhưng thiếu điều kiện triển khai.

Đại biểu Nguyễn Thị Tuyết Nga phát biểu tại buổi thảo luận 

Tham gia ý kiến đối với chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Vinh - Thanh Thủy, đại biểu Nguyễn Thị Tuyết Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội nhất trí với chủ trương này. Việc đầu tư xây dựng Dự án sẽ hình thành tuyến đường bộ tốc độ cao, an toàn, thuận lợi cho việc cơ động và huy động nguồn lực trong các phương án tác chiến, góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh quốc gia; đặc biệt là trong việc kết nối Việt Nam với Lào, đồng thời tăng cường an ninh - quốc phòng cho khu vực Bắc Trung bộ nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng. 

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị Chính phủ làm rõ các giải pháp bảo đảm tái định cư, bảo đảm nơi ở mới phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, đồng thời phân định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Một nội dung được đặc biệt lưu ý là việc dự án dự kiến thu hồi khoảng 180 ha rừng phòng hộ đầu nguồn, khu vực có vai trò quan trọng trong giữ nước, chống xói mòn và bảo vệ hệ sinh thái. Do đó, cần đánh giá kỹ lưỡng tác động môi trường, xác định phương án trồng rừng thay thế và đưa ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro trong thi công.

Đại biểu cũng đề nghị xem xét đầy đủ việc bảo tồn di sản văn hóa, danh thắng, trường học, bệnh viện và hạn chế tối đa ảnh hưởng đến đời sống người dân trong khu vực dự án. Về hình thức đầu tư, bên cạnh đầu tư công, đại biểu cũng đề nghị Chính phủ nghiên cứu khả năng mở rộng thêm hình thức đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) nhằm huy động thêm nguồn lực xã hội.

Về nguồn vốn đầu tư, địa biểu đề nghị Chính phủ xem xét, bổ sung Dự án vào danh mục các chương trình, dự án đầu tư công giai đoạn 2026–2030 để bảo đảm có cơ sở pháp lý và kế hoạch nguồn lực cho việc triển khai. Đồng thời, Chính phủ cần làm rõ và bảo đảm tính khả thi về cơ cấu nguồn vốn, bao gồm phần vốn ngân sách trung ương, vốn ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác; đánh giá khả năng cân đối vốn trong từng năm và cả giai đoạn.

Về áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cho dự án, đại biểu cơ bản thống nhất về sự cần thiết của các cơ chế đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ.Tuy nhiên, đại biểu đề nghị Chính phủ đánh giá kỹ tác động của các cơ chế đặc thù, bảo đảm không gây lạm dụng chuyển đổi đất lúa, đất rừng và tăng cường giám sát trong quá trình thực hiện dự án.

Liên quan đến Chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035, đại biểu Hồ Thị Minh - Phó giám đốc Sở Dân tộc & Tôn giáo tỉnh đề nghị cần làm rõ cấu trúc, cơ chế quản lý và mục tiêu thực hiện chương trình nhằm bảo đảm tính khả thi và phát huy hiệu quả đầu tư.

Đại biểu Hồ Thị Minh phát biểu góp ý dự thảo  Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035

Theo đó, chương trình hiện được thiết kế trên cơ sở tích hợp hai mảng chính sách lớn gồm: xây dựng nông thôn mới – giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi (DTTS&MN). Đại biểu cho rằng cách tiếp cận coi hợp phần phát triển vùng DTTS&MN chỉ là “nội dung bổ sung” là chưa phù hợp, bởi đây vốn là trụ cột quan trọng, kế thừa từ Chương trình 135 và 118 chính sách dân tộc giai đoạn 2018-2020 được tích hợp theo Nghị quyết số 120/2020/QH14. 

Về cơ chế quản lý, đề xuất đưa ra là cần phân công rõ nhiệm vụ giữa các bộ, trong đó Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm đầu mối chung; còn Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì hợp phần đặc thù về phát triển vùng DTTS&MN nhằm bảo đảm tính xuyên suốt và tránh gián đoạn chính sách.

Đối với cơ cấu vốn, đại biểu cho rằng cần phân biệt rõ tính chất từng hợp phần; trong đó hợp phần vùng DTTS&MN phải sử dụng nguồn vốn trung ương là chủ yếu, tránh quy định tỷ lệ đối ứng quá cao khiến địa phương khó thực hiện. Mức đối ứng 10% như giai đoạn 2021–2025 được đề nghị giữ nguyên.

Một số mục tiêu của chương trình cũng được cho là khó khả thi, như 100% xã nghèo thoát nghèo hay thu nhập người dân tộc thiểu số đạt 2/3 bình quân cả nước, khi hiện chưa có tiêu chí xác định xã nghèo sau sáp nhập đơn vị hành chính và ảnh hưởng thiên tai thời gian qua. Ngoài ra, đại biểu đề nghị chương trình cần có chiến lược tổng thể đối với dự án nước sạch, tránh đầu tư nhỏ lẻ, thiếu hiệu quả.

Phương Hảo – Diệu Linh
 

More